Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Cây thổ phục linh làm thuốc

Cây thổ phục linh làm thuốc

Để điều trị đau thần kinh tọa, lấy thổ phục linh 30 g, dây đau xương, cỏ xước, tang ký sinh mỗi thứ 20 g, cốt toái bổ 10 g; sắc uống ngày một thang.
Thổ phục linh còn có tên là cây khúc khắc, vũ dư lương, thổ tỳ giải, sơn kỳ lương, thường mọc hoang ở rừng núi. Rễ củ được thu hái làm thuốc. Theo Đông y, thổ phục linh vị ngọt, nhạt, tính bình, có tác dụng tiêu độc, trừ phong thấp, mạnh gân xương, tán uất kết, thanh nhiệt, lợi thấp... Nó thường được dùng để chữa tê thấp, đau mỏi, lở ngứa, tiêu hóa kém, viêm thận, viêm bàng quang, lở ngứa, giang mai, viêm da mủ, giải độc thủy ngân và bạc, eczema (chàm) và một số bệnh ung thư. Liều dùng 25-40 g.
Một số đơn thuốc có thổ phục linh:
- Phong thấp, gân xương đau nhức, tê buốt: Thổ phục linh 20 g, dây đau xương 20 g, thiên niên kiện, đương quy đều 8 g, bạch chỉ 6 g, cốt toái bổ 10 g. Sắc uống ngày một thang.
- Giang mai: Thổ phục linh 10 g, hà thủ ô 16 g, vỏ núc nác 16 g, gai bồ kết đốt tồn tính 8 g, ké đầu ngựa 12 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm bàng quang: Thổ phục linh 30 g, mã đề 20 g, râu ngô. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm phần phụ ở phụ nữ, nổi hạch 2 bên âm hộ, nóng rét, đau nhức: Thổ phục linh, rễ quýt rừng, rễ bươm bướm mỗi vị 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Ung thư bàng quang: Thổ phục linh 30 g, trà thụ căn 20 g, tề thái 20 g. Sắc lấy nước pha với nước đường để uống. Hoặc thổ phục linh tươi 60 g, bẹ móc (tông lư) 30 g. Sắc uống ngày một thang.
- Ung thư đường tiêu hóa: Thổ phục linh 30 g, nấm hương 10 g, bạch truật 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Ung thư hạch: Thổ phục linh 100 g, tán bột mịn để sắc nước uống hoặc thêm gạo nấu cháo ăn hằng ngày.
- Ngộ độc thủy ngân: Thổ phục linh 30 g, cam thảo bắc 10 g, đậu xanh (lục đậu) 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm da mủ: Thổ phục linh 30 g, bồ công anh, kim ngân hoa, bèo cái mỗi thứ 20 g, cam thảo nam 10 g, vỏ núc nác 15 g. Sắc uống ngày một thang.
BS. Tuấn Vinh, Sức Khoẻ & Đời Sống

Thổ Phục Linh - Trị giang mai, ung nhọt, nổi hạch, đau xương khớp

Thổ Phục Linh - Trị giang mai, ung nhọt, nổi hạch, đau xương khớp

Thổ phục linh (Tây y dùng với tên Salsepareille làm thuốc tẩy độc, làm ra mồ hôi, chữa giang mai...)Trong dân gian thổ phục linh thường được dùng để tẩy độc cơ thể, bổ dạ dày, khoẻ gân cốt, làm cho ra mồ hôi, chữa đau khớp xương và giang mai
 Thổ phục linh (Tây y dùng với tên Salsepareille làm thuốc tẩy độc, làm ra mồ hôi, chữa giang mai...) Trong dân gian thổ phục linh thường được dùng để tẩy độc cơ thể, bổ dạ dày, khoẻ gân cốt, làm cho ra mồ hôi, chữa đau khớp xương và giang mai. Đây là vị thuốc đặc biệt thường được các danh y chữa trị cho các vua chúa, quan lại ăn chơi không may mắc phải bệnh nan y giang mai rất hiệu quả.
''Thổ phục linh'' được đồng bào dân tộc Dao gọi là ''mọt hoi dòi''; dân tộc Tày gọi là ''cẩu ngồ lực''. Tên khoa học là Smilax glabra roxb. (Smilax hookeri kunth); Thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae).
Thổ phục linh là một loại dây leo sống lâu năm, thân dài 4-5m, có thể tới 10m, có nhiều cành nhỏ, gầy, không gai, thường có tua cuốn dài.
Lá mọc so le, hình trái xoan thuôn, phía dưới tròn, dài 5-13cm, rộng 3-7cm, chắc cứng, hơi mỏng, có 3 gân nhỏ từ gốc và nhiều gân con.
Hoa mọc thành tán chừng 20-30 hoa. Cuống chung chỉ ngắn chừng 2mm, cuống riêng dài hơn, chừng 10mm hay hơn. Quả mọng, hình cầu, đường kính 6-7mm, hình 3 cạnh, có 3 hạt.
 
Vị thuốc ''thổ phục linh'' là thân, rễ phơi hay sấy phô, có thể thu hoạch quanh năm, nhưng tốt nhất vào thu đông.
Thổ phục linh (Tây y dùng với tên Salsepareille làm thuốc tẩy độc, làm ra mồ hôi, chữa giang mai...) Trong dân gian thổ phục linh thường được dùng để tẩy độc cơ thể, bổ dạ dày, khoẻ gân cốt, làm cho ra mồ hôi, chữa đau khớp xương và giang mai. Đây là vị thuốc đặc biệt thường được các danh y chữa trị cho các vua chúa, quan lại ăn chơi không may mắc phải bệnh nan y giang mai rất hiệu quả.
Theo Đông y, thổ phục linh có vị ngọt, nhạt, tính bình, vào 2 kinh can và vị, có tác dụng đào thải các chất cặn bã và giải độc. Dùng chữa phong thấp, đau khớp xương, lở ngứa ngoài da, ung thũng (ung nhọt sưng đau), giải độc do thủy ngân, giang mai...
Liều dùng hàng ngày 10-20g dưới dạng thuốc sắc. Có khi dùng liều cao hơn.
Dưới đây là một số ứng dụng cụ thể:
- Chữa bệnh vẩy nến:
Thổ phục linh 40-80g, hạ khô thảo nam (cây cải trời) 80-120g. Cả hai vị sắc kĩ với nước, chia 3 hoặc 4 lần uống trong ngày.
Thời gian điều trị trung bình là 79 ngày - ngắn nhất 23 ngày, dài nhất 118 ngày (Theo Những cây thuốc và vị thuốc VN).
- Chữa phong thấp, gân, xương đau nhức, tê buốt:
(1) Thổ phục linh 20g, cốt toái bổ (còn gọi là tắc kè đá, cây tổ rồng...) 10g, thiên niên kiện 8g, đương quy 8g, bạch chỉ 6g; sắc kỹ với nước, chia 2-3 lần uống trong ngày (Theo kinh nghiệm dân gian Việt Nam).
(2) Thổ phục linh 50g, gọt bỏ vỏ, thái nhỏ; thịt lợn 100g; 2 thứ hầm kỹ, chia 2-3 lần ăn trong ngày (Triết Giang dân gian thường dụng thảo dược).
- Chữa giang mai:
(1) Thổ phục linh 40g, hà thủ ô 16g, vỏ núc nác 16g, ké đầu ngựa (thương nhĩ tử) 10g, gai bồ kết (thiêu tồn tính) 8g; sắc nước uống (Kinh nghiệm dân gian Việt Nam).
(2) Thổ phục linh 60g, ké đầu ngựa 15g, bạch tiên bì 15g, cam thảo 5g; sắc nước uống mỗi ngày một thang; liên tục 30 ngày - một liệu trình (Thảo mộc liệu pháp).
- Chữa ung nhọt, hạch độc lở loét do vi trùng giang mai (mai độc):
Thổ phục linh 60g, kim ngân hoa 15g, bồ công anh 15g, rau sam (mã xỉ hiện) 20g, cam thảo 5g; sắc nước uống mỗi ngày một thang; liên tục trong nhiều ngày. Bài thuốc này còn có tác dụng tốt đối với trẻ nhỏ miệng lở loét do giang mai di truyền (Thảo mộc liệu pháp).
- Chữa trị chứng nổi hạch hai bên âm hộ, đau nhức, lúc nóng lúc rét:
Thổ phục linh, rễ quít rừng, rễ cây bươm bướm - mỗi thứ 20g, cùng sắc uống (Lãn Ông - Bách gia trân tàng).
- Viêm da:
Thổ phục linh 30g, dây kim ngân (nhẫn đông đằng) 20g, ké đầu ngựa 15g; sắc nước uống hàng ngày (Thảo mộc liệu pháp).
- Trị loa lịch:
Thổ phục linh tán thành bột mịn 20g, gạo tẻ 50g, nấu cháo ăn hàng ngày. Cũng có thể dùng 30g thổ phục linh sắc nước uống hàng ngày (Tích đức đường kinh nghiệm phương).
''Loa lịch'' còn gọi là ''lịch tử cảnh'', ''cảnh bệnh'', ''thử sương'' là chứng kết hạch ở cổ - loại nhỏ gọi là ''loa'', to gọi là ''lịch''. Thường phát ra ở cổ, trước hoặc sau tai; có khi lan tới dưới hàm hoặc dưới nách, hình dạng lổn nhổn như hạt châu. Thoạt tiên chỉ có vài mụn nhỏ như hạt đậu, dần dần số mụn tăng lên, kết tụ lại thành những hạch lớn hơn... Lúc đầu da không đổi màu, ấn vào không thấy đau; lâu ngày mới thấy hơi đau, khi vỡ mủ loãng như đờm hay nước đậu, lâu ngày không liền miệng, giống như mạch lươn hoặc hang chuột (nên còn gọi là ''thử lậu'')...

Cách chữa mụn với thổ phục linh

Cách chữa mụn với thổ phục linh

 Cây thổ phục linh hay còn gọi là cây khúc khắc là một loài cây hoang mọc rất nhiều ở nước ta, đặc biệt là vùng núi. Thổ phục linh thường xuất hiện trong các bài thuốc chữa bệnh trong dân gian, trong đó có các bệnh ngoài da. Dưới đây là cách chữa mụn với thổ phục linh.
  • Những điều bạn nên biết về các loại mụn trứng cá
  • Cách trị mụn lưng nào hiệu quả hơn- mẹo dân gian hay kem trị mụn?
  • Cùng “soi” cách trị hết mụn hiệu quả nhất hiện nay

Công dụng của thổ phục linh:

Theo đông y, thổ phục linh có vị ngọt, nhạt và tính bình. Thổ phục linh có tác dụng giải độc và đào thải các chất cặn bã ra ngoài cơ thể từ đó giúp điều trị các bệnh ngoài da như  da bị mụn  hay lở loét, nấm ngứa, vvv…
Cách chữa mụn với thổ phục linh 1
Thổ phục linh

Bên cạnh đó, thổ phục linh còn có khả năng giảm đau nên thường được sử dụng để chữa các bệnh như đau xương, đau khớp và cải thiện tình trạng sưng tấy của mụn nhọt. Do vậy,  mẹo trị mụn  với thổ phục linh cho hiệu quả khá cao.

Cách điều trị như thế nào?

 Cách chữa mụn với thổ phục linh  không quá khó khăn mà chỉ đòi hỏi chị em dành một chút thời gian để thực hiện.
- Nguyên liệu bao gồm: 2 kg thổ phục linh, 600gr rễ tranh và 200gr sinh địa hoàng.
Cách chữa mụn với thổ phục linh 2
 Cách chữa mụn với thổ phục linh 

- Cách làm: đầu tiên chị em đem các nguyên liệu xắt thành lát mỏng hoặc giã nát rồi cho vào trong nồi đất nấu với lửa to trong vòng từ 8-9 tiếng đồng hồ (tuy nhiều thời gian nhưng  cách trị mụn  này rất đơn giản). Sau đó, chị em lọc lấy nước và bỏ bã rồi tiếp tục nấu phần nước đã lọc ở lửa nhỏ đến khi nhận được một hỗn hợp cao.
- Cách dùng: chị em lấy từ 6-8 thìa canh cao và pha với nước sôi để uống. Ngày uống 2 lần vào buổi sáng và chiều (trước bữa ăn từ 1-2 giờ). Áp dụng  cách điều trị mụn  này sẽ giúp chị em mau chóng lấy lại được làn da khỏe mạnh và mịn màng.
Thân mến!

Thổ phục linh cùng Tỳ giải

 Thổ phục linh cùng Tỳ giải 
CÔNG HIỆU KHÁC NHAU
Thổ phục linh cùng tỳ giải đều thanh nhiệt, lợi thấp, trừ phong, trừ tê liệt. Nhưng thổ phục linh ngọt, nhạt, bình thiên về giải độc, lợi thấp, trong điều trị nặng về gan, vị kinh.
Tỳ giải đắng, ngọt, bình thiên về thanh nhiệt, lợi tiểu, làm cho trong đục khác nhau rõ ràng. Trong điều trị thì nặng về can, thận kinh.
CHỦ TRỊ KHÁC NHAU
1 - Thổ phục linh sở trường trị bệnh giang mai, sang độc
Tỳ giải trị thấp nhiệt sang độc
Thổ phục linh giải độc, lợi thấp. Bệnh dương mai chính là do thấp độc tích tụ uất kết mà sinh ra nên dùng thổ phục linh trị là đúng.
Như "Điền nam bản thảo" - dùng thổ phục linh cho rượu vào nấu nhừ trị dương mai sang độc. Hoặc phối hợp với kim ngân hoa, cam thảo, thương nhĩ tử, bạch tiễn bì.
Tỳ giải thanh nhiệt lợi thấp, trị thấp nhiệt sang độc. Như “dương khoa tâm đắc tập" - bài tỳ giải hóa độc thang (tỳ giải, đương quy vĩ, mẫu đơn bì, ngưu tất, phòng kỷ mộc qua, y dĩ nhân, tần bông, trị đau bên ngoài, chỗ sưng đỏ và nóng.
2 - Thổ phuc linh trị gân, cốt đều co quắp
Tỳ giải trị phong thấp tê liệt
Thổ phục linh khu phong trừ tê liệt, phong thấp xâm nhập vào các đốt, khớp xương, hoặc là bệnh dương mai độc làm cho gân cổt co quắp, nên dùng ngay thổ phục linh.
Như "ngoại khoa lý lệ" chữa bệnh dương mai sang đã vỡ lở loét, gân cốt đau nhức, dùng ngay thổ phục linh nấu nước uống. Cũng có thể phối hợp dùng với mộc qua, y dĩ.
Tỳ giải khứ phong, trừ tê liệt, thích ứng cho bệnh phong thấp, tê liệt.
Như "Tuyền châu bản thảo" trị phong thấp tê liệt, thắt lưng và xương đau buốt lắm, dùng rễ tỳ giải cùng tủy lợn uống ngay.
"Quảng lợi phương" chữa người khỏe mạnh bị chứng đau ở thắt lưng và gót chân tê liệt, vừa hoãn viía gấp. không di giầy được, dùng tỳ giải, đỗ trọng giã nát hòa với rượu nóng mà chườm.
3 - Thổ phục linh chữa bệnh lâm lậu, đới hạ
Tỳ giải chủ trị bệnh lâm, bệnh trọc, di tinh
Thổ phục linh thanh nhiệt lợi thấp, giải độc.
Những bệnh lâm lậu, bảng, đới hạ đều do thấp độc sinh ra, cho nên dùng thổ phục linh chữa khỏi.
Như “điền nam bản thảo” trị phụ nhân bị chứng băng huyết, bạch đái, dùng thổ phục linh, cho vào nước vần tro nóng, hòa với đường đỏ uống chữa chứng hồng băng. Dùng với đường trắng chữa chủng bạch đới.
"Giang tây thảo dược" trị bệnh đái ra máu, dung thổ phục linh, mao căn sắc nước uống, ít đường trắng làm thang dẫn thuốc.
Tỳ giải khứ trọc phân thanh, lợi thủy, hòa thấp, hạ tiêu thấpnhiệt, lâm, trọc, di tinh.
Như "dương thị gia tàng phương" - bài tỳ giải phân thanh tán gồm có ích chí nhân, xuyên tỳ giải, thạch xương bồ, ô dược, trị chứng hạ tiêu hư hàn, tiểu tiện bạch trọc, đi rất nhiều lần.
“Y học tâm ngộ” bài tỳ giải ẩm có văn cáp, phấn thạch vi, sa tiền tử, phục linh, đăng tâm, liên tử tâm, thạch xương bồ, hoàng bá để chữa bệnh cao lâm (đái ra mỡ) và các chứng lâm lậu.
4 - Thổ phục chủ trị thấp chẩn
Tỳ giải chủ trị tràng phong
Thổ phục linh lợi thấp, thanh nhiệt, dùng chữa bệnh thấp chẩn chính là do thấp nhiệt gây nên, và bệnh ghẻ lở.
Như "Giang tây thảo dược” trị chứng bì viêm, dùng thổ phục linh đun nước uống thay nước chè.
Bài kim ngân hoa thang (kim ngân hoa can, cúc hoa, xuyên hoàng liên, thổ phục linh, y dĩ nhân, phòng phong, thuyền y, sinh cam thảo, sắc nước uống, trị các bệnh thấpchẩn (Thượng hải trung dược y tạp chí 1964) tỳ giải khu phong, lợi thấp, dùng chữa chứng tràng phong cũng như chữa chứng trĩ, lậu dùng tỳ giải, quan trọng giã và dây nhỏ, trước khi ăn bụng đói hòa với rượu ấm mà uống.
ĐẶC THÙ SỬ DỤNG KHÁC NHAU:
Qua lâm sàng báo: Dùng thổ phục linh một cân cho vào nước đun 2 lần để chữa bệnh cổ (sau gáy) bệnh lâm kết hạch rắn. Phòng chữa bệnh sởi chẩn, dùng thổ phục linh 100% sắc uống có công hiệu; cũng dùng chữa chứng thận kết hạch (sởi thận)

Thổ phục linh chữa bệnh vẩy nến

Thổ phục linh chữa bệnh vẩy nến
Thổ phục linh hay còn gọi là khúc khắc, có tên khoa học là Smilax glabra Roxb. Thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae).
Thổ phục linh là một loại dây leo sống lâu năm, thân dài 4-5m, có thể tới 10m, có nhiều cành nhỏ, gầy, không gai, thường có tua cuốn dài. Lá mọc so le, hình trái xoan thuôn, phía dưới tròn, dài 5-13cm, rộng 3-7cm, chắc cứng, hơi mỏng, có 3 gân nhỏ từ gốc và nhiều gân con. Hoa mọc thành tán chừng 20-30 hoa. Cuống chung chỉ ngắn chừng 2mm, cuống riêng dài hơn, chừng 10mm hay hơn. Quả mọng, hình cầu, đường kính 6-7mm, hơi 3 cạnh, có 3 hạt.
Vị thuốc Thổ phục linh trong Đông y là thân rễ phơi hay sấy khô của cây nói trên. Có thể thu hoạch quanh năm, nhưng tốt nhất vào thu đông. Đào lấy thân rễ, cắt bỏ rễ nhỏ rửa sạch, thái mỏng khi đang còn ướt (cho dễ thái), phơi khô, có khi ngâm nước nóng ít phúc rồi mới thái cho dễ hơn. Có nơi lại để nguyên củ phơi khô.
Thổ phục linh là một vị thuốc được dùng trong Đông y và Tây y. Theo Đông y, Thổ phục linh có vị ngọt, nhạt, tính bình, vào 2 kinh Can và Vị. Có tác dụng thanh nhiệt trừ thấp, tiết trọc giải độc (đào thải các chất cặn bã và giải độc) Dùng chữa phong thấp khớp đau xương, lở ngứa ngoài da, ác sang ung thũng, giải độc do thủy ngân....Dân gian thường dùng để tẩy độc cơ thể, bổ dạ dày, khỏe gân cốt, làm ra mồ hôi....Liều dùng hàng ngày 10-20g dưới dạng thuốc sắc, có khi dùng với liều cao hơn.
Sử dụng thổ phục linh để chữa bệnh vẩy nến là một kinh nghiệm đã được lưu truyền từ lâu trong dân gian và đã được các nghiên cứu thực nghiệm chứng thực:
- Năm 1961, khoa da liễu Quân y viện 108 đã thử nghiệm sử dụng thổ phục linh chữa bệnh vẩy nến (psoriasis) bằng đơn thuốc sau đây: Thổ phục linh 40-80g, hạ khô thảo nam (cây cải trời) (Blumea subcapitata) 80-120g cả 2 vị sắc với nước (500ml) trong 3 giờ ở nồi hấp 150 độ C, được 300ml chia 3 hoặc 4 lần uống trong ngày. Dùng điều trị cho 21 người khỏi hẳn, nhưng có phối hợp ghép Philatop, 3 trường hợp đỡ 70-80%, 1 trường hợp điều trị dở dang. Thời gian điều trị trung bình là 79 ngày (ngắn nhất 23 ngày, dài nhất 118 ngày). Trong khi uống thuốc có phối hợp bôi những thuốc như thuốc mỡ salixylic 5%, crizophanic 5% dầu ca đơ 10%, mở saburo.
- Các năm sau, tại một số bệnh viện khác cũng đã thử nghiệm sử dụng thổ phục linh chữa vẩy nến đạt kết quả tốt.
Hiện tại trên lâm sàng, các thầy thuốc thường sử dụng thổ phục linh để chữa bệnh vẩy nến theo 2 công thức như sau:
1. Dùng thổ phục linh 40-80g, hạ khô thảo nam (cây cải trời) 80-120g, cả 2 vị sắc kỹ với nước, chia 3 hoặc 4 lần uống trong ngày.
2. Dùng thổ phục linh 40g, hà thủ ô 20g, đương quy 20g, khương hoạt 16g, ké đầu ngựa 16g, sinh địa 16g, huyền sâm 12g, uy linh tiên 12g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Ngoài ra, thổ phục linh còn có thể sử dụng để chữa trị nhiều chứng bệnh khác.

Thổ phục linh

Thổ phục linh

Thổ phục linh là vị thuốc quen thuộc, đa tác dụng. Đó là thân rễ cây Thổ phục linh (Smilax glabra Roxb), còn gọi là củ Khúc khắc có vị ngọt, tính bình, vào hai kinh can, vị nó có tác dụng lợi thấp, giải độc.

Gần đây, một số cơ sở nghiên cứu y học cổ truyền (YHCT) của Trung Quốc đã có những bài thuốc dùng Thổ phục linh là chính để chữa  nhiều bệnh đạt hiệu quả tốt.
Thổ phục linh chữa viêm tĩnh mạch nông huyết khối
Đây là loại viêm cấp tính tĩnh mạch nông ở tay chân, không gây mủ, có kèm theo cục máu đông nội mạch thứ pháp.  Chữa trị chủ yếu bằng Thổ phục linh, mỗi ngày một thang 20-30g sắc nước uống một lần. Đồng thời, tuỳ tình hình bệnh mà phối hợp thêm bài thuốc khác. Nếu ở giai đoạn cấp tính sưng đỏ nhiều thì phải thanh nhiệt lợi thấp, hoà dinh lương huyết bằng bài thuốc Ngũ vị tiêu độc ẩm gồm Kim ngân hoa, Dã cúc hoa, Bồ công anh, Tử hoa địa đinh, Tử bối thiên quỳ và bài Tam diệu hoàn gia giảm gồm Hoàng bá, Thương truật, Ngưu tất. Nếu người bệnh đau nhiều thì ngoài Thổ phục linh, uống thêm Chích nhũ hương, Chích một dược để hoạt huyết khư ứ, hành khí thư cân. Nếu bệnh đã lâu ngày, chỗ đau có đường cứng nổi lên, trên da xuất hiện mảng sắc tố màu nâu thì thêm Tam lăng, Nga truật để phá huyết, phá khí giảm đau, tán ứ tán kết. Ngoài việc dùng Thổ phục linh sắc uống, hàng ngày trước khi đi ngủ, lấy 50-100g Thổ phục linh thêm 500ml nước, sắc còn 100-200ml, dùng gạc tẩm nước thuốc ấm, đắp 30 phút, đồng thời chú ý nằm nghỉ, gác cao chỗ đau, tránh đứng lâu, ngồi lâu.
Theo quan điểm YHCT, viêm tĩnh mạch huyết khối nông thuộc phạm trù “mạch tý”, “hoàng thu ung”, phần lớn do ngoại tà thấp nhiệt xâm nhập, làm cho khí huyết ứ trệ, mạch lạc trệ tắc không thông, chữa trị bằng cách thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết thông lạc giảm đau. Nghiên cứu dược lý hiện đại chứng minh Thổ phục linh có tác dụng kháng ngưng tụ tiểu cầu, giảm bớt tính đông máu tăng cao, giảm độ nhớt của máu, ngăn ngừa hình thành huyết khối tĩnh mạch, đồng thời cải thiện vi tuần hoàn, chống viêm, tiêu sưng. Do đó mà Thổ phục linh chữa được viêm tĩnh mạch huyết khối nông.
Thổ phục linh chữa đau bụng kinh
Bài thuốc: Thổ phục linh 30g, Thương truật 15g, Tiểu hồi hương 10g, Đương qui 10g, Xuyên khung 10g, Ngũ linh chi 10g, Xích thược 10g, Một dược 10g, ích mẫu thảo 15g, sắc nước uống trước kỳ kinh 3 ngày, uống liên tiếp 7 thang. Thường sau 4 kỳ kinh thì khỏi.

Theo YHCT, hàn thấp tà nhập bào cung, gây khí huyết ứ trệ. Thổ phục linh có tác dụng trừ thấp, phối hợp với Thương truật, Tiểu hồi hương ôn kinh tán hàn, cùng các vị thuốc hoạt huyết trục ứ phá trệ, toàn bài thuốc có tác dụng khư thấp, tán hàn, hoạt huyết mà khỏi đau bụng kinh.

Thổ phục linh chữa u nang buồng trứng

Bài thuốc: Thổ phục linh 30g, Hoàng bá 15g, Hạ khô thảo 15g, Bào sơn xuyên giáp 10g, Hải tảo 15g, Mẫu lệ 30g, Hương phụ 15g, Đương qui 15g, Đan sâm 15g, Trạch tả 190g, Ngưu tất 10g.  Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang chia làm 2 lần.
Theo YHCT, u nang buồng trứng thuộc phạm trù “chứng tích”, do phụ nữ bụng dưới can kinh khí trệ, thấp nhiệt uẩn kết, khí trệ huyết ứ, thuỷ ẩm đình tụ mà sinh ra. Trong bài thuốc, Thổ phục linh, Xuyên sơn giáp, Hạ khô thảo, Hoàng bá có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp giải độc; Hải tảo, Mẫu lệ có tác dụng nhuyễn kiên tán kết; Hương phụ lý khí giải uất; Đương qui, Đan sâm hoạt huyết hoá ứ; Trạch tả trợ giúp Thổ phục linh lợi thuỷ tiêu tích; Ngưu tất vừa hoạt huyết, vừa dẫn các thuốc đi xuống, toàn bài thuốc phối hợp có tác dụng giải độc, hoạt huyết, hoá ứ, lợi thuỷ tiêu tích, do đó mà khỏi được bệnh.

Thổ phục linh trị bệnh ngoài da trẻ em

Trị rôm mùa hè: Lấy 30g Thổ phục linh, sắc lấy nước, để ấm, lấy khăn sạch thấm nước thuốc bôi lên chỗ rôm, mỗi ngày 3 - 5 lần. Lại lấy lượng nước thuốc vừa đủ, thêm vào nước uống mà tắm, mỗi ngày một lần, liên tục 3 - 5 ngày.

Trị eczema: Nghiền Thổ phục linh thành bột mịn, đắp lên chỗ đau, mỗi ngày 3-5 lần, liên tục 5 ngày.

Theo YHCT, trẻ em là “thuần dương chi thể”, ý nói ở trẻ em dương khí thịnh, hoả nhiệt nội uẩn phát tán ra ngoài. Cho nên, bệnh ngoài da ở trẻ em thường là do tà độc thấp nhiệt kết ở da. Thổ phục linh trị được bệnh do có tác dụng giải độc, lợi thấp.

Thổ phục linh vị thuốc quý cho bệnh nhân Ung Thư

Thổ phục linh vị thuốc quý cho bệnh nhân Ung Thư


 Thổ phục linh còn có tên là cây khúc khắc, vũ dư lương, thổ tỳ giải, sơn kỳ lương, thường mọc hoang ở rừng núi. Rễ củ được thu hái làm thuốc. 
Theo Đông y, thổ phục linh vị ngọt, nhạt, tính bình, có tác dụng tiêu độc, trừ phong thấp, mạnh gân xương, tán uất kết, thanh nhiệt, lợi thấp… Nó thường được dùng để chữa tê thấp, đau mỏi, lở ngứa, tiêu hóa kém, viêm thận, viêm bàng quang, lở ngứa, giang mai, viêm da mủ, giải độc thủy ngân và bạc, eczema (chàm) và một sốbệnh ung thư.
Liều dùng 25-40 g.

 Thổ phục linh vị thuốc quý cho bệnh nhân Ung Thư
Thổ phục linh


 Một số đơn thuốc có thổ phục linh: 
- Phong thấp, gân xương đau nhức, tê buốt: Thổ phục linh 20 g, dây đau xương 20 g, thiên niên kiện, đương quy đều 8 g, bạch chỉ 6 g, cốt toái bổ 10 g. Sắc uống ngày một thang.
- Giang mai: Thổ phục linh 10 g, hà thủ ô 16 g, vỏ núc nác 16 g, gai bồ kết đốt tồn tính 8 g, ké đầu ngựa 12 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm bàng quang: Thổ phục linh 30 g, mã đề 20 g, râu ngô. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm phần phụ ở phụ nữ, nổi hạch 2 bên âm hộ, nóng rét, đau nhức: Thổ phục linh, rễ quýt rừng, rễ bươm bướm mỗi vị 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Ung thư bàng quang: Thổ phục linh 30 g, trà thụ căn 20 g, tề thái 20 g. Sắc lấy nước pha với nước đường để uống. Hoặc thổ phục linh tươi 60 g, bẹ móc (tông lư) 30 g. Sắc uống ngày một thang.
- Ung thư đường tiêu hóa: Thổ phục linh 30 g, nấm hương 10 g, bạch truật 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Ung thư hạch: Thổ phục linh 100 g, tán bột mịn để sắc nước uống hoặc thêm gạo nấu cháo ăn hằng ngày.
- Ngộ độc thủy ngân: Thổ phục linh 30 g, cam thảo bắc 10 g, đậu xanh (lục đậu) 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm da mủ: Thổ phục linh 30 g, bồ công anh, kim ngân hoa, bèo cái mỗi thứ 20 g, cam thảo nam 10 g, vỏ núc nác 15 g. Sắc uống ngày một thang.

cay khuc khac Thổ phục linh vị thuốc quý cho bệnh nhân Ung Thư
Cây khúc khắc ( Thổ phục linh )
  Đơn thuốc theo kinh nghiệm dân gian  

  Thổ phục linh chữa viêm tĩnh mạch nông huyết khối: 
Đây là loại viêm cấp tính tĩnh mạch nông ở tay chân, không gây mủ, có kèm theo cục máu đông nội mạch thứ pháp. Chữa trị chủ yếu bằng Thổ phục linh, mỗi ngày một thang 20-30g sắc nước uống một lần. Đồng thời, tuỳ tình hình bệnh mà phối hợp thêm bài thuốc khác. Nếu ở giai đoạn cấp tính sưng đỏ nhiều thì phải thanh nhiệt lợi thấp, hoà dinh lương huyết bằng bài thuốc Ngũ vị tiêu độc ẩm gồm Kim ngân hoa, Dã cúc hoa, Bồ công anh, Tử hoa địa đinh, Tử bối thiên quỳ và bài Tam diệu hoàn gia giảm gồm Hoàng bá, Thương truật, Ngưu tất. Nếu người bệnh đau nhiều thì ngoài Thổ phục linh, uống thêm Chích nhũ hương, Chích một dược để hoạt huyết khư ứ, hành khí thư cân. Nếu bệnh đã lâu ngày, chỗ đau có đường cứng nổi lên, trên da xuất hiện mảng sắc tố màu nâu thì thêm Tam lăng, Nga truật để phá huyết, phá khí giảm đau, tán ứ tán kết. Ngoài việc dùng Thổ phục linh sắc uống, hàng ngày trước khi đi ngủ, lấy 50-100g Thổ phục linh thêm 500ml nước, sắc còn 100-200ml, dùng gạc tẩm nước thuốc ấm, đắp 30 phút, đồng thời chú ý nằm nghỉ, gác cao chỗ đau, tránh đứng lâu, ngồi lâu.
Theo quan điểm YHCT, viêm tĩnh mạch huyết khối nông thuộc phạm trù “mạch tý”, “hoàng thu ung”, phần lớn do ngoại tà thấp nhiệt xâm nhập, làm cho khí huyết ứ trệ, mạch lạc trệ tắc không thông, chữa trị bằng cách thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết thông lạc giảm đau. Nghiên cứu dược lý hiện đại chứng minh Thổ phục linh có tác dụng kháng ngưng tụ tiểu cầu, giảm bớt tính đông máu tăng cao, giảm độ nhớt của máu, ngăn ngừa hình thành huyết khối tĩnh mạch, đồng thời cải thiện vi tuần hoàn, chống viêm, tiêu sưng. Do đó mà Thổ phục linh chữa được viêm tĩnh mạch huyết khối nông.


  Thổ phục linh chữa đau bụng kinh  
Bài thuốc: Thổ phục linh 30g, Thương truật 15g, Tiểu hồi hương 10g, Đương qui 10g, Xuyên khung 10g, Ngũ linh chi 10g, Xích thược 10g, Một dược 10g, ích mẫu thảo 15g, sắc nước uống trước kỳ kinh 3 ngày, uống liên tiếp 7 thang. Thường sau 4 kỳ kinh thì khỏi. Theo YHCT, hàn thấp tà nhập bào cung, gây khí huyết ứ trệ. Thổ phục linh có tác dụng trừ thấp, phối hợp với Thương truật, Tiểu hồi hương ôn kinh tán hàn, cùng các vị thuốc hoạt huyết trục ứ phá trệ, toàn bài thuốc có tác dụng khư thấp, tán hàn, hoạt huyết mà khỏi đau bụng kinh.


  Thổ phục linh chữa u nang buồng trứng  
Bài thuốc: Thổ phục linh 30g, Hoàng bá 15g, Hạ khô thảo 15g, Bào sơn xuyên giáp 10g, Hải tảo 15g, Mẫu lệ 30g, Hương phụ 15g, Đương qui 15g, Đan sâm 15g, Trạch tả 190g, Ngưu tất 10g. Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang chia làm 2 lần. Theo YHCT, u nang buồng trứng thuộc phạm trù “chứng tích”, do phụ nữ bụng dưới can kinh khí trệ, thấp nhiệt uẩn kết, khí trệ huyết ứ, thuỷ ẩm đình tụ mà sinh ra. Trong bài thuốc, Thổ phục linh, Xuyên sơn giáp, Hạ khô thảo, Hoàng bá có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp giải độc; Hải tảo, Mẫu lệ có tác dụng nhuyễn kiên tán kết; Hương phụ lý khí giải uất; Đương qui, Đan sâm hoạt huyết hoá ứ; Trạch tả trợ giúp Thổ phục linh lợi thuỷ tiêu tích; Ngưu tất vừa hoạt huyết, vừa dẫn các thuốc đi xuống, toàn bài thuốc phối hợp có tác dụng giải độc, hoạt huyết, hoá ứ, lợi thuỷ tiêu tích, do đó mà khỏi được bệnh.





  Thổ phục linh trị bệnh ngoài da trẻ em  
 Trị rôm mùa hè:  Lấy 30g Thổ phục linh, sắc lấy nước, để ấm, lấy khăn sạch thấm nước thuốc bôi lên chỗ rôm, mỗi ngày 3 – 5 lần. Lại lấy lượng nước thuốc vừa đủ, thêm vào nước uống mà tắm, mỗi ngày một lần, liên tục 3 – 5 ngày.
 Trị eczema:  Nghiền Thổ phục linh thành bột mịn, đắp lên chỗ đau, mỗi ngày 3-5 lần, liên tục 5 ngày. Theo YHCT, trẻ em là “thuần dương chi thể”, ý nói ở trẻ em dương khí thịnh, hoả nhiệt nội uẩn phát tán ra ngoài. Cho nên, bệnh ngoài da ở trẻ em thường là do tà độc thấp nhiệt kết ở da. Thổ phục linh trị được bệnh do có tác dụng giải độc, lợi thấp.

Thổ phục linh - lọc máu, giải độc

Thổ phục linh - Lọc máu, giải độc
Thổ phục linh là loài cây mọc hoang, rất phổ biến ở khắp các vùng rừng núi ở nước ta. Đây là một vị thuốc mà các ông lang, bà mế người dân tộc vùng cao rất hay sử dụng.

Vị thuốc này cũng hay có mặt trên gánh thuốc của các bà hàng lá làng Đại Yên (Hà Nội) và các phòng chẩn trị Đông y.

''Thổ phục linh'' còn có tên là ''khúc khắc'', ''khau đâu'', ''dây chắt'', ''dây khum'', đồng bào dân tộc Dao gọi là ''mọt hoi dòi''; dân tộc Tày gọi là  ''cẩu ngồ lực''.  Tên khoa học là Smilax glabra roxb. (Smilax hookeri kunth); Thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae).

Thổ phục linh là một loại  dây leo sống lâu năm, thân dài 4-5m, có thể tới 10m, có nhiều cành nhỏ, gầy, không gai, thường có tua cuốn dài.

Lá mọc so le, hình trái xoan thuôn, phía dưới tròn, dài 5-13cm, rộng 3-7cm, chắc cứng, hơi mỏng, có 3 gân nhỏ từ gốc và nhiều gân con.

Hoa mọc thành tán chừng 20-30 hoa. Cuống chung chỉ ngắn chừng 2mm, cuống riêng dài hơn, chừng 10mm hay hơn. Quả mọng, hình cầu, đường kính 6-7mm, hình 3 cạnh, có 3 hạt.

Vị thuốc ''thổ phục linh'' là thân, rễ phơi hay sấy phô, có thể thu hoạch quanh năm, nhưng tốt nhất vào thu đông.
Thổ phục linh là một vị thuốc được dùng cả trong Đông y và Tây y (Tây y dùng với tên Salsepareille làm thuốc tẩy độc, làm ra mồ hôi, chữa giang mai...)
Trong dân gian thổ phục linh thường được dùng để tẩy độc cơ thể, bổ dạ dày, khoẻ gân cốt, làm cho ra mồ hôi, chữa đau khớp xương.
Theo Đông y, thổ phục linh có vị ngọt, nhạt, tính bình, vào 2 kinh can và vị, có tác dụng đào thải các chất cặn bã và giải độc. Dùng chữa phong thấp, đau khớp xương, lở ngứa ngoài da, ung thũng (ung nhọt sưng đau), giải độc do thủy ngân,...
Liều dùng hàng ngày 10-20g dưới dạng thuốc sắc. Có khi dùng liều cao hơn.

Liều dùng hàng ngày 10-20g dưới dạng thuốc sắc. Có khi dùng liều cao hơn.
Dưới đây là một số ứng dụng cụ thể:
 - Chữa bệnh vẩy nến:  Thổ phục linh 40-80g, hạ khô thảo nam (cây cải trời) 80-120g.  Cả hai vị sắc kĩ với nước, chia 3 hoặc 4 lần uống trong ngày.
Thời gian điều trị trung bình là 79 ngày - ngắn nhất 23 ngày, dài nhất 118 ngày (Theo Những cây thuốc và vị thuốc VN).
 - Chữa phong thấp, gân, xương đau nhức, tê buốt: 
(1) Thổ phục linh 20g, cốt toái bổ (còn gọi là tắc kè đá, cây tổ rồng...) 10g,  thiên niên kiện 8g, đương quy 8g, bạch chỉ 6g; sắc kỹ với nước, chia  2-3 lần  uống trong ngày (Theo kinh nghiệm dân gian Việt Nam).
(2) Thổ phục linh 50g, gọt bỏ vỏ, thái nhỏ; thịt lợn 100g; 2 thứ hầm kỹ, chia 2-3 lần ăn trong ngày (Triết Giang dân gian thường dụng thảo dược).
 - Chữa giang mai: 
(1) Thổ phục linh 40g, hà thủ ô 16g, vỏ núc nác 16g, ké đầu ngựa (thương nhĩ tử) 10g, gai bồ kết (thiêu tồn tính) 8g; sắc nước uống (Kinh nghiệm dân gian Việt Nam).
(2) Thổ phục linh 60g, ké đầu ngựa 15g, bạch tiên bì 15g, cam thảo 5g; sắc nước uống mỗi ngày một thang; liên tục 30 ngày - một liệu trình (Thảo mộc liệu pháp).


- Chữa ung nhọt, hạch độc lở loét do vi trùng giang mai (mai độc):
 - Chữa ung nhọt, hạch độc lở loét do vi trùng giang mai (mai độc):  Thổ phục linh 60g, kim ngân hoa 15g, bồ công anh 15g, rau sam (mã xỉ hiện) 20g, cam thảo 5g; sắc nước uống mỗi ngày một thang; liên tục trong nhiều ngày. Bài thuốc này còn có tác dụng tốt đối với trẻ nhỏ miệng lở loét do giang mai di truyền (Thảo mộc liệu pháp).
 - Chữa trị chứng nổi hạch hai bên âm hộ, đau nhức, lúc nóng lúc rét: Thổ phục linh, rễ quít rừng, rễ cây bươm bướm - mỗi thứ 20g, cùng sắc uống (Lãn Ông - Bách gia trân tàng).
 - Viêm da:  Thổ phục linh 30g, dây kim ngân (nhẫn đông đằng) 20g, ké đầu ngựa 15g; sắc nước uống hàng ngày (Thảo mộc liệu pháp).
 - Trị loa lịch:   Thổ phục linh tán thành bột mịn 20g, gạo tẻ 50g, nấu cháo ăn hàng ngày. Cũng có thể dùng 30g thổ phục linh sắc nước uống hàng ngày (Tích đức đường kinh nghiệm phương).
''Loa lịch'' còn gọi là ''lịch tử cảnh'', ''cảnh bệnh'', ''thử sương'' là chứng kết hạch ở cổ - loại nhỏ gọi là ''loa'', to gọi là ''lịch''. Thường phát ra ở cổ, trước hoặc sau tai; có khi lan tới dưới hàm hoặc dưới nách, hình dạng lổn nhổn như hạt châu. Thoạt tiên chỉ có vài mụn nhỏ như hạt đậu, dần dần số mụn tăng lên, kết tụ lại thành những hạch lớn hơn... Lúc đầu da không đổi màu, ấn vào không thấy đau; lâu ngày mới thấy hơi đau, khi vỡ mủ loãng như đờm hay nước đậu, lâu ngày không liền miệng, giống như mạch lươn hoặc hang chuột (nên còn gọi là ''thử lậu'')...